Các triệu chứng thiếu dinh dưỡng của cà phê chè

Cây cà phê thiếu dinh dưỡng sẽ cho ra loại cà phê chất lượng kém, năng suất thấp. Nhận biết được tình trạng thiếu dinh dưỡng của cây cà phê từ đó đưa ra phương thức chăm sóc, bổ sung dinh dưỡng phù hợp cho cây. Và quan trọng nhất là người nông dân nên biết và nhận diện được các triệu chứng thiếu dinh dưỡng của cây cà phê.

1. Cây cà phê thiếu đạm

Thiếu đạm cây cà phê có biểu hiện vàng lá, ban đầu lá vàng một nữa rồi sau đó lá vàng lan rộng ra toàn bộ lá. Ban đầu các lá  già váng trước sau đó là các lá non, hiện tượng thiếu đạm sẽ khiến cho cây cằn cỗi đi hạn chế mọc chồi non cành kém phát triển cho trái nhỏ và năng suất giảm hẳn.

2. Cây cà phê thiếu lân

Cà phê khi thiếu lân sẽ xuất hiện các mảng màu đỏ rồi chuyển màu sang tím và sau đó lan rộng toàn bộ khắp bề mặt lá. Thiếu lân chồi cây kém phát triển cây ra hoa ít và trái cũng ít theo năng suất kém hẳn đi

Cây cà phê thiếu lân

3. Thiếu Kali

Lá già sẽ bị vàng ngay từ mép lá vào bên trong, sau đó lá khô lại rồi rụng hàng loạt, lá rụng nhiều vào giai đoạn cây nuôi trái. Thiếu phân K trái không được to, nhân nhỏ và lép nhiều hiện tượng rụng trái nhiều hơn bình thường khiến năng suất giảm hẳn.

Cây cà phê thiếu Kali

4. Thiếu Magie

Thiếu Magie sẽ làm cho lá xuất hiện các đốm vàng và dần dần lan tỏa ra khắp toàn bộ lá làm cây phát triển kém đi năng suất giảm. Ở những vùng đất chua có chứa nhiệt boxit cây thường có biểu hiện này.

Cây cà phê thiếu Magie

5. Thiếu Canxi

Cà phê thiếu canxi lá có biểu hiện màu vàng trắng, phần chóp lá cong lại nhưng không đều vào phần bên trong. Cây thiếu canxi lá rất mỏng dễ bị rách thân cành có dấu hiệu nứt quả, những vườn cà phê bón vôi ít, đất chua và đất dốc cây thường thiếu canxi khiến cho năng suất giảm mạnh.

Cây cà phê thiếu canxi

6. Thiếu lưu huỳnh

Lá non phần ngọn mỏng và chuyển vàng là biểu hiện của tình trạng thiếu lưu huỳnh. Cà phê giai đoạn kiến thiết cơ bản thường mắc phải và cà phê giai đoạn kinh doanh thì ít có biểu hiện thiếu lưu huỳnh hơn.

Cây cà phê thiếu lưu huỳnh

7. Thiếu Bo

Bo là nguyên tố ít di động nên triệu chứng thiếu Bo thường xuất hiện ở các bộ phận non của cây.

– Ban đầu đỉnh sinh trưởng chùn lại, dần dần chết khô.

– Chồi non bị teo dần và chết, lá đọt rất nhỏ và khô dần từ mép.

– Tỷ lệ đậu trái thấp và tình trạng rụng trái non rất nhiều làm năng suất và chất lượng đều giảm.

– Xuất hiện nhiều vết rạn nứt trên thân và cuống quả.

– Cành không phát triển được, lá rụng nhiều chỉ còn lại cành mang ít trái, trơ trụi.

8. Thiếu Mangan (Mn)

Lá non chuyển mài vàng trắng gân có màu xanh mờ, kích thước lá nhỏ cây kém phát triển và cho năng suất thấp.

9. Thiếu đồng (Cu)

Cây còi cọc và pháp triển kém dễ bị sâu bệnh tấn công do không có sức đề kháng. Cành non suy yếu và bị teo dần đi.

10. Thiếu sắt (Fe)

Lá đọt cà phê chuyển sang màu trắng các lá già bên dưới vẫn xanh bình thường đây chính là hiện tượng thiếu sắt. Hiện tượng này khá hiếm nhưng vẫn có ở những vườn bón thừa vôi là lân.

Trên đây là những tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng phổ biến ở cây cà phê, tuy nhiên không phải thấy hiện tượng cây thiếu gì mà bổ sung ngay thành phần đâng thiếu, mà người nông dân cần tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ dẫn đến tình trạng cây không hấp thụ chất dinh dưỡng.

Tại Hướng Phùng, nếu bà con cần hỗ trợ về việc canh tác chăm sóc cây cà phê cách hiệu quả, liên hệ Pun Coffee chúng tôi kết nối bà con với tổ chức GCP (Global coffee platform) để được tư vấn một cách cụ thể nhất, giúp bà con nâng cao chất lượng sản xuất, năng suất với cây cà phê.

Tìm hiểu về giống cà phê arabica catimor

Cà phê Catimor là giống cà phê lai chéo cà giữa Timor và Caturra được trồng phổ biến ở vùng Trung Nam Mỹ và châu Á. Cafe Catimor được đánh giá là dễ trồng, cho năng suất và khả năng kháng sâu bệnh cao. Cũng nhờ đặc điểm nổi bật, dòng cafe này đã được trồng rộng rãi ở Việt Nam.

Cà phê Catimor là gì?

Như đã trình bày, Catimor là sự lai tạo giữa cafe Timor (cà phê Timor được lai tạo từ cà phê Arabica và Robusta) và Caturra.

Vào khoảng thế kỷ 19, tại Trung Nam Mỹ thường xuyên xảy ra các dịch bệnh trên cây cà phê. Đặc biệt là đối với giống cây Bourbon, Typica và Moka. Lúc này, các nhà khoa học cố gắng nghiên cứu tạo ra giống cafe có khả năng kháng bệnh, thân nhỏ và cho năng xuất cao. Đến năm 1959, các nhà khoa học Bồ Đào Nha đã thành công khi cho ra đời giống cafe Catimor, dòng cà phê đáp ứng các tiêu chí trên.

Giống cây cà phê chè này được đánh giá có năng suất cao, khả năng kháng bệnh tốt và kích thước nhỏ, phù hợp cho việc trồng được nhiều cây trên cùng diện tích. Hạt Catimor được giới thiệu đầu tiên tại Brazil vào năm 1970. Ngay sau đó, Catimor đã tạo nên một hiệu ứng khi các nhà máy sản xuất thay nhau truy tìm giống cafe có năng suất cao này.

Vùng trồng ở Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam, giống cà phê Catimor đang được trồng khá phổ biến tại hầu hết các khu vực như Đắk Nông, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Quảng Trị, Nghệ An và Sơn La.

Độ cao thường sẽ tác động trực tiếp đến hình dáng, kích thước cũng như hương vị của cafe. Đối với dòng Arabica, độ cao thích hợp để trồng là trong khoảng 900-1920m với mực nước biển. Đối với Catimor, theo kết quả nghiên, chúng thường sẽ phát triển tối ưu nhất nếu được trồng tại độ cao từ 700-1000m. Một điều đặc biệt Pun Coffee muốn chia sẽ cùng các bạn là tại Quảng Trị, cà phê Khe Sanh giống catimor trồng độ cao 650m, thậm chí có vùng độ cao 520m nhưng trong năm 2021 này cà phê arabica catimor Quảng Trị vươn lên trở thành nhà vô địch cà phê đặc sản Việt Nam.

Đặc điểm của cà phê Catimor

Đặc điểm sinh học

Cà phê Catimor thuộc họ cây gỗ, sống thành bụi và chiều cao thấp, cho phép việc trồng với mật độ dày đặc hơn. Những quả cà phê chè nhanh chín và cho năng suất cao hơn so với các loại cà phê thông thường. Thân cây được phân nhánh và lá của cây cafe này có màu đỏ nhạt khi còn non. Hạt cà phê có hình dáng bán cầu tròn. Hạt có kích thước nhỏ và hàm lượng caffeine thấp dao động trong khoảng 1-2%.

Hương thơm của cà phê catimor:

Thực sự mà nói cà phê catimor nếu chế biến đúng phương pháp sẽ mang lại hương thơm khiến bạn ngất ngây vì sự đa dạng phức tạp, phải nói là quyến rũ vô cùng. Vị chua thanh thoát nhẹ nhàng là đặc trưng của arabica catimor mang lại cho người dùng.

Nói không ngoa, catimor được chế biến theo phương pháp natural, rang ligh dùng để pour mang lại cho bạn những cung bậc cảm xúc thật thú vị. Sự đan xen của các notes hương hoa hương trái cây kết hợp vị ngọt để bạn quên bẵng đi chút đắng nhẹ nhàng mà còn lại âm vang ngọt ngào nơi cuối họng tròn vị.

Tuy nhiên trong những năm gần đây sự xuất hiện của THA1 giống cà phê arabica mới khiến cho catimor thất thế hơn nhưng công bằng mà nói để có một tách cà phê từ giống arabica catimor phải trải quan quá trình chế biến kì công và chuỗi chăm sóc, canh tác thu hái đúng kỹ thuật.

Tại Pun Coffee, tụi mình có nhiều mẻ cà phê đặc sản được chế biến từ cà phê arabica catimor, bạn có nhu cầu liên hệ tụi mình nhé.

Bài viết có sử dụng nguồn internet

 

Bệnh lở cổ rể trên cây cà phê

Phải thẳng thắn thừa nhận rằng, để có một tách cà phê ngon đến người dùng cuối cùng thì khâu trồng trọt, chăm sóc và thu hái cà phê vô cùng quan trọng. Trồng cà phê người nông dân gặp vô cùng điều kiện khó khăn như thời tiết: sương muối, mưa nhiều ngày cà phê ra hoa…và đặc biệt các loại bệnh hại cây cà phê. Trong những năm qua, tình hình phát sinh sâu bệnh trên cây cà phê đang diễn biến hết sức phức tạp, việc áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều loại bệnh chưa có thuốc đặc trị, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây cà phê cũng có nhiều vấn đề đáng bàn…bắt đầu từ bài viết này Pun Coffee chia sẽ cùng bà con nông dân chuỗi bài viết các bệnh thường gặp trên cây cà phê.

Bệnh lở cổ rễ trên cây cà phê:

– Bệnh lỡ cổ rễ trên cây cà phê xuất hiện do nấm Rhizoctonia solani, Fusarium spp gây ra.
– Điều kiện phát sinh gây bệnh là do đất vườn ươm ẩm thấp và rơi vào tình trạng ngập úng. Bầu đất khi gieo ươm không đục lỗ thoát nước, bầu và các luống cây không khô thoáng…
– Đặc biệt, vào mùa mưa, đất ẩm không được xới xáo thường xuyên dẫn đến tình trạng cây bị ngập úng.
– Bệnh thường xuất hiện tại phần cổ rễ của những cây cà phê con trong vườn ươm hoặc những cây cà phê từ 1 – 3 năm tuổi. Tùy vào từng độ tuổi cây cà phê mà có dấu hiệu bệnh khác nhau.

+ Đối với bệnh trên cây cà phê ở vườn ươm:

– Khi bị nấm tấn công, phần cổ rễ của cây con xuất hiện vết chấm màu đen, rễ bắt đầu thối đen và teo lại khiến nước và chất dinh dưỡng từ mặt đất không thể được chuyển lên phần lá khiến lá bị héo và cây sẽ bị chết.

Để phòng trừ bệnh lở cổ rễ tại vườn ươm bà con cần chú ý các biện pháp canh tác sau:

– Không nên tưới nước quá nhiều, khiến cây bị ngập úng.

– Càng không nên che vườn ươm quá kỹ làm cho ánh sáng sẽ không đủ chiếu vào cây con làm mất độ thông thoáng cho toàn bộ cây bên trong. Tốt nhất nên để khoảng 40 – 50% lượng ánh sáng ngoài trời chiếu vào vườn cây bên trong vườn ươm.

– Nên kiểm tra vườn thường xuyên, nếu phát hiện bầu đất sét, bầu bị dí chặt hoặc không thoát nước thì nên chủ động xới xáo, bóp bầu để tạo độ thông thoáng cho bầu đất.

Nếu có cây bị bệnh thì tiến hành nhổ bỏ ngay những cây bị bệnh và đưa ra khỏi vườn để tiêu hủy.

+ Đối với bệnh trên cây cà phê giai đoạn từ 1 – 3 tuổi (giai đoạn KTCB):

Dấu hiệu của bệnh xuất hiện khi phần cổ rễ của cây bị khuyết dần vào bên trong, cây bắt đầu chậm sinh trưởng và có dấu hiệu bị vàng lá. Đây chính là biểu hiện của bộ rễ bị ảnh hưởng khiến nước và chất dinh dưỡng không thể được đưa lên ngọn khiến lá bị vàng. Nếu bà con trồng cà phê mà không phát hiện bệnh sớm và không có biện pháp phòng trừ kịp thời thì cây sẽ bị chết.

Bà con cần chú ý bệnh lở cổ rễ có thể lây lan qua các công đoạn như khi bà con làm cỏ, cuốc xới hoặc lây lan qua đường nước tưới, nước mưa giúp nấm xâm nhập vào bộ rễ.

Để phòng trừ bệnh lở cổ rễ giai đoạn này bà con cần chú ý các biện pháp canh tác sau:

– Trước khi trồng cần chọn loại đất có tầng canh tác dày, khả năng thoát nước tốt, mạch nước ngầm sâu trên 01 mét để trồng cà phê.

– Trong vườn/lô trồng cà phê bà con cần trồng cây chắn gió tạm thời cho vườn cây từ 1 – 3 năm tuổi. Cứ khoảng 2 – 3 hàng cây cà phê thì trồng một hàng cây chắn gió. Nếu có đầu tư, bà con nên kết hợp trồng cây choai sống để trồng tiêu vừa tạo thành hàng cây chắn gió vừa là hình thức trồng xen canh để tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích.

– Khi tiến hành trồng nên chọn lựa những cây con có đầy đủ tiêu chuẩn xuất vườn, cây sạch bệnh và có khả năng chống chịu cao.

– Hạn chế tạo vết thương lên phần gốc cây cà phê thông qua việc làm cỏ hay đánh chồi sát gốc để nấm không có nơi lây lan.

– Loại bỏ ngay những cây bị bệnh nặng ra xa khỏi vườn cây và tiêu hủy cẩn thận. Sau khi nhổ bỏ những cây bị bệnh ra khỏi vườn, bà con có thể xử lý hố bằng vôi với lượng 1kg/hố để trừ nấm bệnh và để phơi trong 15 ngày rồi mới tiến hành trồng lại.

Bệnh lở cổ rễ là một trong những bệnh hại nghiêm trọng ở cây cà phê từ 1 – 3 năm trồng, bệnh có thể phòng trừ nếu bà con phát hiện kịp thời nên bà con hãy lưu ý những triệu chứng của bệnh để bảo vệ vườn cây khỏi nấm bệnh và giúp vườn được phát triển tốt nhất. Và chúng ta cũng cần lựa chọn biện pháp xử lý bệnh một cách khoa học, an toàn hướng tới canh tác nông nghiệp cà phê bền vững.

Bài viết sử dụng tài liệu từ internet, có tính chất tham khảo và phương pháp điều trị mong bà con liên hệ với chi cục BVTV để được hướng dẫn cụ thể.

Bệnh thán thư trên cà phê

Bệnh thán thư trên cây cà phê

Bệnh thán thư (có nơi gọi là bệnh khô cành, khô quả, thối quả) do nấm Colletotrichum cofeanum gây ra, là một trong vài dịch hại quan trọng trên cây cà phê, đặc biệt là vào mùa mưa.

Bệnh có thể gây hại nhiều bộ phận của cây, nhưng chủ yếu vẫn là trên quả.

-Trên quả: Bệnh thường tấn công mạnh ở giai đoạn quả đã thành thục, tại vị trí gần cuống quả hoặc tại điểm tiếp xúc giữa hai quả với nhau (những nơi dễ bị nước đọng lại). Ban đầu vết bệnh chỉ là một đốm tròn nhỏ màu đen, hơi lõm xuống, sau lan rộng khắp vỏ quả, ăn sâu vào trong nhân làm quả bị thối, khô đen và rụng sớm.

-Trên cành: Ban đầu vết bệnh chỉ là những đốm nhỏ màu nâu hơi lõm xuống ở những đốt giữa cành, sau lan rộng hết chiều dài của đốt. Bệnh thường tấn công những cành nhỏ đang hóa gỗ, nếu nặng có thể gây hại cả những cành lớn và thân cây, chỗ bị bệnh chuyển thành mầu nâu đen, làm lá bị rụng, cành bị khô rồi chết.

-Trên lá: Ban đầu vết bệnh là những đốm tròn màu nâu đen, sau đó lan rộng dần, trên đó có các vòng đồng tâm. Nếu nặng các vết bệnh liên kết lại với nhau thành từng mảng khô, màu nâu sẫm hay nâu đen.

Biện pháp phòng trị bệnh thán thư trên cây cà phê

  • Không trồng cà phê quá dầy, thường xuyên cắt tỉa những cành bị sâu bệnh, cành nằm sâu trong tán lá không có khả năng cho trái… trồng cây che bóng theo kỹ thuật và chọn lựa cây trồng nhằm đảm bảo che được bóng mát và an toàn cho cây cà phê.
  • Vào mùa mưa cần tỉa bớt cây che bóng trong mùa mưa để vườn cà phê luôn thông thoáng, khô ráo, hạn chế sự phát sinh, phát triển, lây lan và gây hại của nấm bệnh.
  • Khi bệnh trở nặng, bắt buộc dùng chế phẩm bảo vệ thực vật bà con lưu ý nên liên chi cục BVTV để được tư vấn, không quá lạm dụng hóa chất để đưa vào khi cây cà phê đã già trái vì điều này ảnh hưởng đến tồn dư thuốc BVTV trên cà phê. Nhà Pun Coffee hiện nay, với mô hình cà phê mẫu, chúng tôi sử dụng nước ngâm bồ hòn và lá neem làm chế phẩm trị bệnh tự nhiên cho cây cà phê. Trong bài viết tới, Pun Coffee chia sẽ sâu hơn về vấn đề này.

Bài viết có sử dụng nguồn tư liệu từ internet

Chu kỳ dinh dưỡng của hệ sinh thái nông nghiệp thuận thiên

Người ta chia tất cả sinh vật sống trong hệ sinh thái thành ba loại: sản xuất, tiêu thụ và phân hủy. Mấu chốt để hiểu hệ sinh thái là nghiên cứu sự tương tác giữa các khâu sản xuất, tiêu thụ, phân hủy và các vi sinh vật khác cùng các yếu tố như mặt trời, nước, không khí, chất khoáng v.v…

Vật sản xuất là những cây lá xanh có chứa chất diệp lục. Chúng tạo ra thức ăn (cacbonhydrat) cho bản thân chúng và cho mọi sinh vật khác bằng cách sử dụng năng lượng mặt trời (chỉ năng lượng từ bên ngoài) và lấy chất dinh dưỡng (khoáng, nước, cacbondyoxit. Quy trình sản xuất này được gọi là quang hợp. Cần chú ý rằng không gì có thể sản xuất thức ăn cho sinh vật ngoài cây. Đó là lý do tại sao người ta gọi cây là vật sản xuất.

Vật tiêu thụ là những động vật sống bằng cách ăn các sản phẩm (cacbonhydrat) của vật sản xuất một cách trực tiếp và gián tiếp. Vật tiêu thụ được chia thành bốn nhóm: nhóm thứ nhất, nhóm thứ hai, nhóm thứ ba và nhóm ăn thịt cao nhất. Nhóm thứ nhất bao gồm động vật ăn cỏ (ví dụ côn trùng), chúng ăn trực tiếp sản phẩm của vật sản xuất. Nhóm thứ hai là động vật ăn thịt (như nhện, ếch), chúng chủ yếu ăn động vật thuộc nhóm thứ nhất. Nhóm thứ ba (như rắn) chủ yếu ăn động vật thuộc nhóm thứ hai. Nhóm thú ăn thịt (như hổ, báo) là những động vật chủ yếu ăn động vật thuộc nhóm thứ ba. Không có động vật nào ăn nhóm thú ăn thịt cao nhất. Theo đó, có một mối quan hệ cân bằng nhất định giữa các vật tiêu thụ. Con người được xếp vào nhóm tiêu thụ. (Chú ý: mối quan hệ thật sự giữa các loài động vật còn phức tạp hơn. Cách phân loại này chỉ bao gồm những mối quan hệ đơn giản.

Vật phân hủy là những vi sinh vật (như nấm, vi khuẩn, vi rút v.v…) sống bằng cách ăn các chất hữu cơ như chất thải của các vật sản xuất và vật tiêu thụ (như lá cây, xác xúc vật và phân động vật v.v…). Có một lượng lớn các vi sinh vật sống trong đất (hơn 100,000,000 trong một gam đất). Chức năng quan trọng nhất của vật phân hủy là biến đổi chất hữu cơ thành mùn thông qua phân hủy và thành chất khoáng thông qua khoáng hóa. Mùn rất cần thiết cho việc tạo ra đất và cải thiện đất. Chất khoáng lại được các vật sản xuất hấp thụ như là chất dinh dưỡng. (Từ góc độ khác, vật phân hủy được coi là chất dọn sạch hành tinh này. Bởi các vi sinh vật hoạt động trong đất, đất sẽ được dọn sạch và tốt, nếu không thì bề mặt hành tinh này sẽ đầy các chất thải của các vật sản xuất và vật tiêu thụ).

Chu trình vòng dinh dưỡng thuận thiên

Chu trình vòng dinh dưỡng thuận thiên

Nhà Pun Coffee tụi mình bắt đầu xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp cà phê thuận thiên cùng bà con đồng bào thiểu số Vân Kiều, nhằm góp phần nhỏ tụi mình trong công cuộc bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu. Bởi hiện nay, thiên nhiên càng ngày càng khắc nghiệt, có lẻ đó chính là hậu quả của con người chúng ta gây ra một thời gian dài. Môi trường tự nhiên bị phá hủy, hóa chất bị lạm dụng, công nghệ biến đổi gen GMO phá vỡ đi hệ cân bằng của nông nghiệp…chúng ta quên mất giá trị của đất mẹ đối với nông nghiệp và con người.

Với cà phê thuận thiên, Pun Coffee cải tạo phát triển lại hệ thống cỏ nhằm giữ ẩm cho đất, thúc đẩy hệ sinh vật dưới mặt đất sinh sôi nảy nở, các cây tầng táng đang xen nhau tạo nên tổng thể vườn cà phê đang dạng sinh học. Thu hút côn trùng có lợi, và từ đó tạo thành bức tường tự nhiên ngăn chặn thiên địch và côn trùng có hại. Hệ thực vật tự nhiên luôn biết cách cân bằng sinh thái nếu chẳng may bị phá vỡ, lắng nghe được hệ sinh thái tự nhiên thì chính là con đường phát triển nông nghiệp bền vững.

Nguồn bài viết tham khảo: Apachai

Cà phê hữu cơ và những tiêu chuẩn hữu cơ toàn cầu

Câu chuyện cà phê hữu cơ bắt đầu trong những năm 1980 – 1990, khi trên thế giới xuất hiện loại cà phê độc đáo khác biệt là Blue Mountain ở Jamaica, hay Kopi Luwak của Indonesia mang lại giá trị lợi nhuận kinh tế cao, điều này đưa đến xu hướng là chuyển đổi cà phê canh tác truyền thống sang hướng canh tác hữu cơ. Ban đầu các chuyên gia đánh giá cà phê rất hoài nghi về chất lượng cà phê hữu cơ khá là dở, vì nó đến từ các nông hộ nhỏ, nghèo mà cà phê mặc định là hữu cơ vì họ không đủ tiền mua phân bón hoặc thuốc trừ sâu. Họ cũng chỉ chăm sóc qua loa bằng việc cắt tỉa hoặc chế biến phù hợp với điều kiện hạn hẹp. Nhưng từ năm 1989 tại khu vực Châu Mỹ người ta bắt đầu áp dụng mô hình canh tác hữu cơ theo hướng đặc sản nhằm cải tiến chất lượng cà phê tại khu vực này sau khi các chỉ tiêu đánh giá cà phê khu vực Nam Phi hoàn toàn vượt trội, đặc biệt cà phê Ethiopia được canh tác đang dạng sinh học thì hương vị của chúng khác biệt rõ rệt. Điều này khởi sắc khái niệm cà phê đặc sản canh tác hữu cơ, đẩy giá cà phê loại này lên cao ngất ngưỡng (Giá chúng cao 250% sơ với giá cà phê thông thường –Hiệp hội cà phê đặc sản thế giới SCA) và hiện nay cà phê đặc sản canh tác hữu cơ chiếm 5% thị phần cà phê thế giới.

Và đi đầu trong phong trào canh tác cà phê hữu cơ phải kể đến Gary Talboy của Coffee Bean International (CBI) và  Tom Harding của hiệp hội cải tiến cây trồng Hữu cơ (Orgranic Crop Improvement Association – OCIA) họ đã đào tạo quy trình chăm sóc canh tác cà phê chất lượng cao hữu cơ và chứng nhận cho cà phê hữu cơ cho những hợp tác xã chế biến cà phê đạt chuẩn hữu cơ tại khu vực mỹ La Tinh.

Xu hướng cà phê hữu cơ toàn cầu dự đoán trong tương lai sẽ bùng nổ mạnh mẽ tại Bắc Mỹ tiếp đến là Châu Âu và Mỹ Latinh, bên cạnh đó thị trường mới nổi Châu Á – Thái Bình Dương đưa mức tiêu thụ cà phê vượt lên ngất ngưỡng, các chuyên gia tài chính nông nghiệp dự báo thị trường cà phê hữu cơ sẽ lên tới con số 50 tỷ dolla trong thời gian tới.

– Các ông lớn trong thị trường cà phê hữu cơ toàn cầu là Rogers Family Company, Death Wish Coffee Co., Burke Brand Llc., Jungle Products Cr., Camano Island Coffee Roasters Llc., Special Java Inc., Coffee Bean Direct Llc., Và Allegro Coffee Company. Họ đã rất thành công trong việc định hình thị trường cà phê hữu cơ cũng như xây dựng thương hiệu, thay đổi thói quen người tiêu dùng đối với dòng sản phẩm này, đem lại mức doanh thu vượt hơn so với trước đây 45%. {Theo Trung tâm nghiên cứu và giảng dạy nông nghiệp nhiệt đới ở Costa Rica (CATIE)}

Số liệu quy hoạch vùng cà phê hữu cơ 2019
Số liệu quy hoạch vùng cà phê hữu cơ 2019

Các tiêu chuẩn về cà phê hữu cơ toàn cầu

Xét về tiêu chuẩn hữu cơ cho cà phê, tương tự áp dụng với tiêu chuẩn sản phẩm nông nghiệp khác và chúng được phân loại như sau:

Cà phê hữu cơ được chia thành 4 nhóm tùy theo % chất hữu cơ chứa trong thực phẩm cà phê đó, gồm: (1) “100% organic” tức là không thêm bất cứ hóa chất nào khác; (2) “Organic” với 95% hữu cơ; (3) “Made with organic ingredients” có ít nhất 70% hữu cơ; (4) “Some organic ingredients” có dưới 70% hữu cơ.

– Và mỗi quốc gia đều có những chứng nhận hữu cơ riêng, một số chứng nhận có độ tin cậy trên toàn thế giới như chứng nhận hữu cơ của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ(USDA – Organic), Liên minh Châu Âu (European Union)…, hay hệ thống đảm bảo cùng tham gia trong nông nghiệp (PGS)…

Như vầy bước đầu, bạn đã hiểu được cà phê hữu cơ khởi nguồn từ đâu và tiêu chuẩn đánh giá cà phê hữu cơ thế giới như thế nào, trong bài viết sắp tới Pun Coffee chia sẽ sâu hơn việc canh tác cà phê hữu cơ, và chế biến cà phê hữu cơ như thế nào mới gọi là chuẩn hữu cơ.

Bài viết được trích từ báo cáo chuyên đề cà phê hữu cơ của công ty TNHH Pun Coffee, số liệu thống kê được lấy từ các tạp chí cà phê danh giá toàn cầu

Lợi ích cỏ dại điều không ai cũng biết

Khi mình về Quảng Trị để bắt đầu làm cà phê, lúc đến các vườn cà phê, mình ngạc nhiên là các vườn cà phê ở đây rất sạch cỏ. Hầu như chỉ có cà phê và đất trắng, không thấy cỏ luôn…sau này mới biết đây là thói quen canh tác cà phê ở vùng này. Nhà Pun liên tục nhắc nhở các bà con trong nhóm liên kết về việc giữ cỏ trong vườn cà phê, hôm nay với bài viết này Pun Coffee chia sẽ cùng mọi người lợi ích của của cỏ trong canh tác nông nghiệp nói chung và canh tác cà phê nói riêng.

Những lợi ích mà cỏ dại mang lại

– Che phủ, bảo vệ đất trồng, hạn chế được xói mòn rửa trôi lớp đất mặt.

– Giúp đất giữ ẩm tốt hơn, đưa được nước và dinh dưỡng vào sâu hơn, hạn chế sự bốc hơi nước khi nắng nóng.

– Rễ cỏ giúp đất tơi xốp, thoáng khí, đưa được nhiều O và CO2 vào tầng đất sâu, giúp rễ cây trồng hô hấp và hấp thu dinh dưỡng dễ dàng hơn.

– Cỏ giúp điều hòa dinh dưỡng đất, khi được cắt tỉa hay chết đi tự nhiên, cỏ trả lại dinh dưỡng cho đất. Rễ cỏ, xác cỏ khi phân hủy cải thiện lượng hữu cơ trong đất, giúp đất giàu mùn và phì nhiêu hơn.

– Giữ cỏ giúp tạo môi trường thuận lợi cho hệ sinh vật đất phát triển, hoạt động cải thiện chất lượng đất hiệu quả hơn. Giúp bảo vệ cây trồng trước sự tấn công của nấm bệnh.

– Việc che phủ mặt đất giúp hạn chế quá trình rửa trôi các kim loại kiềm cũng góp phần ổn định pH đất.

– Là nguồn phân xanh cung cấp dinh dưỡng cho các cây trồng khác.

– Một số loại cỏ có khả năng cố định nitơ tự nhiên, bổ sung đạm cho cây trồng chính và cải tạo đất trồng.

– Một số loại khác có khả năng xua đuổi tuyến trùng, côn trùng gây hại hay thu hút các loài thiên địch.

– Cỏ dại còn là nguồn thức ăn cho các loại vật nuôi và còn là những vị thuốc dùng trong đông y.

Các loại cỏ nên giữ trong vườn

Cỏ có lợi hay có hại tuỳ thuộc vào loại cỏ và số lượng cũng như cách sử dụng chúng. Các loại cỏ khác nhau thay đổi về lượng nước và chất dinh dưỡng chúng lấy từ đất, hình dáng cỏ và thói quen tăng trưởng. 

Cây cỏ họ đậu (đậu đen, xanh, đậu nành, lạc dại, đậu săng, đậu mèo, muồng vàng,…)

Các loại cây cỏ họ đậu nhờ có vi khuẩn nốt sần cộng sinh ở rễ, có khả năng cố định nitơ trong tự nhiên để bổ sung đạm cho cây trồng, đồng thời lượng sinh khối cao nên cho nguồn phân xanh rất lớn.

Cây cỏ họ cúc (cúc vạn thọ, hướng dương, bồ công anh,hoa sao nhái,…)

Các loại cây cỏ họ cúc được trồng trong vườn ngoài mang lại lợi ích vè xe phủ, bảo vệ đất, bổ sung nguồn sinh khối thì còn có tác dụng thu hút thiên địch nhờ có hoa và xua đuổi côn trùng và hạn chế tuyến trùng trong đất.

Lạc dại (cỏ đậu)

Lạc dại la là cây cỏ họ đậu cố định đạm có khả năng chịu hạn tốt, chịu úng cao, có thể trồng được quanh năm.  Lạc dại mọc sát mặt đất nên khả năng che phủ và giữ ẩm cho đất rất tốt. Đồng thời còn là ký sinh chủ của rệp sáp, giúp chia sẻ áp lực cho cây trồng chính.

Cách quản lý cỏ dại đúng cách

Giữ cỏ trong vườn mang đến nhiều lợi ích, nhưng chúng ta cũng cần biết quản lý cỏ đúng cách. Dưới đây là những lưu ý khi giữ cỏ:

Cũng như các loại cây trồng khác trong vườn, cỏ cũng cần được chăm sóc, tưới tiêu.

Đối với các vườn cây mới trồng, không để cỏ sát gốc, dùng các vật liệu hữu cơ che phủ.

Không sử dụng thuốc diệt cỏ để diệt các loại cỏ dại không mong muốn, chỉ nhổ bỏ và trồng xen các loại cây cỏ khác để cạnh tranh thay thế, sau một thời gian những loại cỏ đó sẽ tự động mất đi.

Cắt tỉa:

  • Chỉ cắt cỏ khi chúng mọc quá cao, không cắt khi mùa nắng hạn, chỉ cần cắt từ 2-3 lần trong mùa mưa.
  • Không đánh bật gốc hay cắt sát mặt đất, cắt cỏ cách mặt đất từ 10 -15cm để cỏ nhanh sinh khối trở lại.
  • Đối với các loại cây cỏ có hoa chỉ cắt khi hoa tàn, hạt đã đổ xuống.
  • Khi cắt xong, không vứt bỏ mà phủ ngay xuống mặt đất trồng để che phủ và bổ sung sinh khối hữu cơ cho đất.

Để hạn chế công cắt cỏ có thể trồng các loại cỏ bụi thấp, mọc sát mặt đất như lạc dại, rau trai. Nhưng vẫn ưu tiên các loại cỏ phát triển nhanh, sinh khối nhiều bởi lượng mùn hữu cơ sau khi cỏ phân hủy lớn giúp đất càng màu mỡ, giữ ẩm càng tốt.

Như vậy, trong vườn cà phê việc làm sạch sẽ cỏ hay sử dụng hóa chất diệt cỏ là điều không tốt đối với dinh dưỡng trong đất vườn cà phê, để cây cà phê hấp thụ dưỡng chất tốt trong đất việc giữ cỏ trong vườn cà phê là điều cần thiết.

 

Những bí mật về đất

Những bí mật về đất

“Chúng ta biết nhiều về sự chuyển động của các thiên thể hơn là về đất dưới chân chúng ta”                                                                                                                   

Leonardo Da vinci

Đất khỏe mạnh là đất có sự sống. Các hoạt động sinh học và sự đa dạng là điểm quan trọng của đất khỏe vì mỗi một sinh vật đất đều có chức năng đặc biệt riêng. Những sinh vật đất này tiêu hóa chất hữu cơ của đất và chuyển đổi nó thành các chất mà cây và các sinh vật đất khác có thể hấp thụ được.

Đất là một hệ sinh thái phức tạp và đa dạng nhất trên Trái Đất, với hơn 1 tỷ các vi sinh vật đại diện cho 10.000 loài sinh vật sống, tất cả được kết nối với nhau trong các chuỗi thức ăn phức tạp, phá vỡ các khối hữu cơ lớn thành các khối mảnh hơn để nuôi cây và làm “kho” chứa nước và chất dinh dưỡng.

Những sinh vật sống trong đất này bao gồm các vi sinh vật  như tảo, nấm và các sinh  vật lớn như giun đất và côn trùng có ích. Chúng tạo thành một mạng lưới thức ăn trong đất –  hoạt động giống như một mạng nhện. Mạng lưới này càng chứa nhiều sợi thì càng có nhiều khả năng “bắt giữ” thức ăn và giữ chất dinh dưỡng. Càng nhiều sinh vật trong đất của bạn sẽ có càng nhiều dinh dưỡng được xoay vòng trong hệ thống và nó luôn sẵn sàng cho cây trồng của bạn.

Những bí mật về đất

Các đơn vị đã được chuyển đổi sang hệ m để mọi người dễ tham khảo

Đất khỏe có nghĩa là cây khỏe và cho năng suất cao hơn. Thực hành canh tác hữu cơ giúp cải thiện đất tích lũy theo thời gian. Việc cải tạo đất này bao gồm:

  • Tăng hoạt động sinh học trong đất
  • Làm cho đất trở thành vật chủ tốt hơn cho cây, cải thiện cấu trúc đất.
  • Cải thiện độ ẩm đất và khả năng thoát nước.
  • Có thể giúp giảm tác động tiêu cực đến môi trường của nông nghiệp, chảng hạn như rửa trôi nitrat và xói mòn.
  • Giúp tăng năng suất trên đất của bạn qua từng năm.

Chất hữu cơ trong đất

Trong hầu hết các loại đất, chất hữu cơ chiếm ít hơn 5% tổng trọng lượng.

Chất hữu cơ trong đất (Soil organic matter – SOM) là một phần của đất bao gồm bất cứ thứ gì đã từng sống và cả thực vật, động vật vẫn còn trong giai đoạn phân hủy, tế bào và mô của sinh vật đất, các chất tiết từ rễ cây và vi khuẩn đất. Chất hữu cơ bị phân hủy thành mùn, một chất xốp, màu nâu sẫm và có mùi đất dễ chịu.

Khi thực vật, côn trùng, vi sinh vật sống trong hoặc trên đất chết đi, chúng góp phần tạo ra SOM. SOM cũng có thể được thêm vào thông qua việc bón thêm phân hữu cơ hoặc phân động vật hoặc các chất phi nông nghiệp như đá phốt phát và cát xanh. Nấm có lợi, vi khuẩn và các sinh vật đất khác có thể tái chế SOM và chuyển đổi nó thành chất dinh dưỡng và các chất khác mà cuối cùng đều có lợi cho cây trồng của bạn.

Khi mức độ SOM tăng lên nó chuyển đổi thành mùn. Đất mùn được xem là một dạng đất tương đối ổn định còn sót lại sau khi vô số sinh vật đất từ giun đất đến các động vật chân đốt đã sử dụng, tiêu hóa các vật liệu hữu cơ đang phân hủy. Mùn rất giàu carbon:

  • Chúng có khả năng chống phân ra lâu hơn
  • Hoạt động như một bể chứa nước và chất dinh dưỡng cải thiện cấu trúc đất.
  • Tiếp tục nuôi các vi sinh vật đất có lợi
  • Chứa một lượng đáng kể carbon trong khí quyên để giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Cà phê cảnh quan canh tác hữu cơ

Cà phê cảnh quan vườn rừng là mô hình cải tiến và thúc đẩy hệ sinh cảnh cà phê tiệm cận hệ sinh thái rừng với 5 thành tố trụ cột (3 sinh vật và 2 phi sinh vật) hiệu quả, bền vững trên cả 3 khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.

Mô hình cà phê cảnh quan còn được gọi là mô hình đa dạng sinh học trong vườn cà phê với các tầng lớp cây khác nhau trồng đang xen gồm: tầng cây gỗ vượt tán, nắm giữ vai trò dẫn dắt hệ sinh thái, thường là các cây ăn quả lâu năm (Bơ, nhãn, vải, hồng) choái sống hồ tiêu… Tầng tạo tán quần thể, giữa vai trò quyết định đặc tính hệ sinh thái, là cây trồng nền ở đây là cà phê chè arabica, đang xen tầng tạo tán là các loại cây có múi chiếm 1/10 tỷ lệ tầng tạo tán. Tiếp đến là cây thảm phủ mặt đất, giữ vai trò cải thiện ở hệ sinh thái, là cây họ đậu hoặc các loại cây dược liệu: cỏ ngọt, sả

Bên cạnh đó có các rãnh nước  và gờ cản nước, vành đai cách ly ngăn chặn sự xâm lấn của hóa chất vùng liền kề hoặc sâu bệnh, vành đai này có thể chọn dòng cà phê mít (libreica cofee), chuối…bên cạnh đó phát triển chuỗi cây leo như: thanh long, khổ qua rừng.,

Việc đa dạng hệ sinh thái trong vườn cà phê cảnh quan góp phần cải thiện đất, chọn canh tác nông nghiệp tự nhiên hướng tới chuẩn hữu cơ.

Cà phê cảnh quan vườn rừng kiến tạo chủ động các nguồn thu nhập vườn cà phê cho người nông dân:

Hiện nay rất nhiều nông hộ liên kết với Pun Coffee áp dụng mô hình cà phê cảnh quan cải tạo lại vườn cà phê nhằm chủ động các nguồn thu nhập khác nhau từ vườn cà phê cũ từ các loại cây trồng đang xen trong vườn cà phê.

Cà phê Khe Sanh gần 10 năm rớt giá, người dân bỏ bê không chăm sóc cà phê, sản lượng thấp, chất lượng hạt cà phê kém, đến khi giá cà phê tăng vọt tở lại thì người dân lại không có cà phê. Bên cạnh đó việc người dân chuyển đổi cây trồng khác cũng làm diện tích cà phê thu hẹp. Vùng cà phê có gần lịch sử 100 năm đang dần bị thu nhỏ lại. Việc kiến tạo các nguồn thu nhập chủ động từ vườn cà phê tạo hình thái cà phê cảnh quan giúp người dân không chỉ có một nguồn thu nhập là cà phê mà có các nguồn thu khác bổ trợ. 

Cà phê cảnh quan canh tác xu hướng canh tác tự nhiên hướng tới hữu cơ (Agroforestry to organics)

Đây là mô hình canh tác xen kẽ với rừng, nương nhờ sự đa dạng và cân bằng sinh học sẵn có của rừng để kết hợp trồng/chăn nuôi, giúp đất đai thêm màu mỡ và chống xói mòn.Và sử dụng phân bón từ cây cỏ kết hợp phân xanh từ chăn nuôi, chăm sóc cây trồng. Sử dụng chế phẩm bảo vệ thực nguyên bản từ sinh vật bản địa chăm sóc cây trồng trong vườn cà phê.

Việc dịch chuyển dần mô hình từ nông nghiệp tự nhiên sang hữu cơ, là cách thức bắt đầu cải tạo đất, thu hoạch nguồn giống bản địa nguyên bản để đạt mục tiêu hữu cơ. Và đây chính là xu thế tất yếu của nền nông nghiệp bền vững. Hai phương pháp này phối hợp cùng nhau để đạt được mục tiêu:

– Mục tiêu cuối cùng chính là vì mục đích cuối cùng và đều hướng đến sự phát triển bền vững. Sản xuất nại những sản phẩm nông nghiệp sạch, tươi ngon, an lành cho sức khỏe của con người, đồng thời không gây ra những tác động nguy hại đến hệ sinh thái và môi trường sống của muôn loài trên trái đất này.

Việc nói không với sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu trong hoạt động canh tác nông nghiệp. Ngăn chặn được tình trạng gây ô nhiễm môi trường, nhiễm độc hệ sinh thái, tiêu diệt vi sinh vật, côn trùng trong đất. Áp dụng các phương pháp kiểm soát dịch hại trên cây trồng, bảo vệ mùa màng, bảo vệ môi trường đất đai, nguồn nước và hệ sinh thái bằng: Sử dụng thiên địch hoặc sử dụng các chế phẩm vi sinh, sinh học tự chế để mang lại sự an toàn cho tất cả.

Với vườn cà phê cảnh quan, ngoài mang lại những hạt cà phê chăm sóc tự nhiên nói không hóa chất, còn mang lại các loại cây trái, thảo dược thu hoạch từ vườn…

Mô hình cà phê cảnh quan là xu hướng tất yếu trong tương lai hướng tới hệ sinh thái nông nghiệp bền vững góp phần cải tạo kết cấu đất giúp đất giàu dinh dưỡng, bảo vệ môi trường…

Cà phê mít Quảng Trị âm hưởng nắng gió Trường Sơn

Người ta thường nghĩ cà phê mít thì chỉ có khu vực Tây Nguyên, nhưng thực tế giữa đại ngàn Trường Sơn – Khe Sanh – Hướng Phùng diện tích trồng cà phê mít không hề nhỏ.

Cà phê mít là loại cà phê mang hương vị rất khác lạ và số lượng ít chủ yếu tại Philippines, Malaysia và vài nước Tây Phi. Vậy cà phê mít là gì? Đặc điểm hương vị của loại cà phê này như thế nào? Cùng tìm hiểu ngay trong bài viết sau đây nhé!

Cà phê mít còn gọi là cà phê cherry hay liberica, có tên khoa học là Coffea Excelsa hoặc Coffea Liberica thuộc họ Thiền Thảo, là nhánh thứ ba trong số các loại cà phê được trồng sau Arabica và Robusta. Do kích thước cây và lá khá giống với cây mít nên cũng được đặt tên là cà phê mít. Cà phê mít là loại cà phê thích hợp với rất nhiều loại khí hậu, có khả năng chống lại sâu bệnh rất tốt. Tuy nhiên chúng có độ chua cao nên thường rất hiếm trồng và chiếm khoảng 1% lượng cà phê tiêu thụ trên thế giới.

Về hình dáng, thân cây cà phê mít khá cao, lá có màu xanh bóng dài to. Cây sinh trưởng phát triển tốt ở độ cao 800 – 1000m với nhiệt độ từ 25 – 30 độ C và lượng mưa từ 1000mm trở lên.

Cà phê mít lần đầu tiên được tìm thấy vào năm 1843 ở Liberia, Trung Phi. Được đem đến trồng tại Philippines trong thế kỷ 18 bởi người Tây Ban Nha. Cuối thế kỷ 19 cà phê mít còn được  đem đến trồng tại Indonesia để thay thế cho cây Arabica bị tàn phá bởi bệnh gỉ sắt trong thời điểm này. Ngày nay, đa số các cây cà phê mít được trồng ở Malaysia, Indonesia và Philippines, một số khác thì được trồng ở Châu Phi và Ấn Độ.

Cây cà mít trưởng thành cao từ 2-5m nhưng có thể cao hơn 15m nếu mọc ở ngoài tự nhiên. Thân, lá và quả đều rất to, khác biệt hẳn cà phê vối. Và một trong những đặc điểm nổi bật của giống cà phê này là khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, chịu hạn, ít cần nước tưới nên thường trồng quảng canh. Cũng chính nhờ những đặc tính “hiếm có” này mà cà phê mít rất được các nhà vườn ưa chuộng, thường sử dụng chúng làm gốc ghép cho các loại cà phê khác.

Một cây cà phê mít trưởng thành có từ 30.000 – 40.000 hoa, chúng chỉ nở trong 3 – 4 ngày và có đặc điểm ra hoa tại vị trí cũ vào vụ kế tiếp nên vào vụ thu hoạch. Hoa café mít thường nở đồng loạt, thành chùm màu trắng muốt, hương thơm ngào ngạt.

Về đặc điểm trái thì trái cà phê mít có hình bầu dục, màu vàng sáng bóng rất đẹp, rất dân giã. Chúng có kích thước quả lớn hơn khoảng 1,5 lần kích thước cà phê Arabica, được xếp vào giống cafe có quả lớn nhất hiện nay. Cũng vì điều này, cà phê mít sau khi thu hoạch thì cần nhiều thời gian hơn để chế biến hạt cà phê bởi vì vỏ của chúng dày hơn các giống cà phê khác.

cà phê mít thường nở hoa và thu hoạch muộn bởi đặc điểm là hoa nở nhờ nước mưa cho nên sau khi các loại cà phê khác đã thu hoạch xong thì cà phê mít mới bắt đầu vào vụ mùa của mình, thường là khoảng tháng 12 âm lịch. Tuy vậy nhưng sản lượng của cà phê mít cũng không lớn. Ở Hướng Phùng, chủ yếu thường được trồng rồng thành hàng với khoảng cách 5-7m một cây, thuần loài hay làm đai rừng chắn gió cho các lô cà phê chè

Hương vị của cà phê mít.

Nếu nhẹ nhàng thanh thoát cùng với mùi hương ngọt ngào của trái cây là những tính từ để nói về cà phê chè và vị đắng, đất cùng gỗ ở cuối khẩu vị để nói về cafe vối thì ở cà phê mít hay còn gọi là cafe Cherry cũng mang một hương vị rất khác biệt với đặc trưng khó nhầm lẫn. Chúng có mùi thơm thoang thoảng như mít hòa quyện vị chua chua của cherry, khi nếm thì lại có mùi socola nhẹ nhàng kết hợp với một chút ngọt của trái chín, hương rất thoảng của hoa cỏ và gia vị, mang lại cho người thưởng thức một cảm giác khó tả. Nếu cà phê mít được chế biến góc độ chất lượng cao, chúng sẽ là loại cà phê rất tuyệt vời vì hương thơm trái cây đặc trưng mít.

Cà phê mít với vị rất chua đặc trưng nhờ đó mà đem đến một “màu sắc” rất khác lạ. Đặc biệt với sự khan hiếm của mình và một phần trong vài năm lại đây cà phê không được giá nên chúng bị đốn bỏ khá nhiều, điều này làm chúng càng trở nên quý hiếm được nhiều tín đồ yêu thích cà phê tìm kiếm và săn đón. Hy vọng với những chia sẻ từ bài viết trên đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về những đặc điểm của giống cà phê này. Và nếu đã quá quen thuộc với những vị cà phê truyền thống thì tại sao ngay hôm nay bạn không thử thay đổi một chút với tách cà phê mít xem sao?

Bạn có thể đặt mua cà phê mít rang mộc hoăc cà phê mít nhân xanh tại đây nhé.

Nguồn tham khảo bài viết: Art coffee

Một số hình ảnh cà phê mít do Puncoffee cung cấp